SV24h – Quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN đến năm 2030, tầm nhìn 2045 xác định rõ mục tiêu hình thành cơ sở chất lượng cao, tiệm cận chuẩn khu vực và quốc tế.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động, giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao trở thành yêu cầu tất yếu. Đây là giải pháp then chốt để đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề vững, kỹ năng gắn với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Theo đó, Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035 đã đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành 18 cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao.
Cơ hội lớn nhưng cũng không ít thách thức
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Lê Danh Quang – Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội cho biết: Hiện nay, Nhà nước đang ưu tiên phát triển giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh công nghiệp hóa, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức. Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đã xác định rõ mục tiêu hình thành các cơ sở chất lượng cao, tiệm cận chuẩn khu vực và quốc tế. Đây là hành lang pháp lý và định hướng chính trị quan trọng, tạo điều kiện tiên quyết cho việc triển khai mục tiêu.
Bên cạnh đó, hệ thống giáo dục nghề nghiệp hiện nay cũng tạo cơ sở thuận lợi cho việc nâng cấp, phát triển. Cả nước hiện có khoảng 1.800 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó gần 400 trường cao đẳng, một số trường đã được đầu tư trọng điểm, tiếp cận chuẩn đào tạo của Đức, Úc, Hàn Quốc… Chưa kể, nhiều cơ sở đạt thành tích cao tại các kỳ thi kỹ năng nghề ASEAN và WorldSkills, một số ngành nghề đã đạt chuẩn quốc tế với trang thiết bị đào tạo hiện đại.
Do đó, nếu tập trung đầu tư có chọn lọc vào những cơ sở có tiềm lực sẵn có, việc hình thành 18 trường chất lượng cao đến năm 2030 là khả thi.
Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Lê Danh Quang, việc triển khai mục tiêu xây dựng các trường chất lượng cao cũng gặp không ít thách thức. Trước hết, các trường cần đầu tư lớn về cơ sở vật chất, thiết bị, xưởng thực hành, chương trình đào tạo và kiểm định theo chuẩn quốc tế, trong khi chi phí cho một nghề đạt chuẩn quốc tế rất cao, đòi hỏi cơ chế ưu tiên ngân sách và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội hóa.
Thứ hai, đội ngũ giáo viên nghề cũng là điểm nghẽn, khi yêu cầu về kỹ năng thực hành, ngoại ngữ và khả năng làm chủ công nghệ mới ngày càng cao, trong khi trình độ giữa các cơ sở vẫn còn chênh lệch, cần đầu tư dài hạn cho đào tạo, bồi dưỡng và hợp tác quốc tế. Ngoài ra, mô hình trường chất lượng cao đòi hỏi mức độ tự chủ lớn và liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp, nhưng không phải cơ sở nào cũng đủ năng lực quản trị và kết nối hiệu quả với thị trường.
“Để bảo đảm mục tiêu đến năm 2030 hình thành 18 cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao, cần ưu tiên đầu tư trọng điểm, lựa chọn đúng các cơ sở có tiềm năng, tăng cường tự chủ tài chính, mở rộng xã hội hóa và hợp tác công – tư. Đồng thời đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp trong xây dựng chương trình và đánh giá kỹ năng, chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, thu hút chuyên gia quốc tế.
Mặt khác, cần mở rộng kiểm định và chuyển giao chương trình đào tạo từ các quốc gia phát triển, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trong đào tạo. Nếu được triển khai đồng bộ, quyết liệt trong giai đoạn 2026–2030, mục tiêu này hoàn toàn có thể đạt được”, thầy Quang nhấn mạnh.

Tiến sĩ Lê Danh Quang – Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ Cao Hà Nội. Ảnh: NVCC
rong khi đó, theo Thạc sĩ Nguyễn Yến Ngọc – Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Hòa Bình, việc đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành 18 cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Nếu thực hiện thành công, mục tiêu này không chỉ nâng tầm vị thế của các trường cao đẳng trong hệ thống giáo dục mà còn góp phần thay đổi nhận thức xã hội về con đường học nghề.
Cô Ngọc cho biết, hiện nay nhiều phụ huynh và học sinh vẫn ưu tiên con đường học trung học phổ thông và đại học, coi đó là lựa chọn “an toàn” và mở ra nhiều cơ hội hơn. Thực tế này khiến các trường cao đẳng gặp không ít khó khăn trong tuyển sinh, đồng thời ảnh hưởng đến uy tín và sự phát triển của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của các trường cao đẳng chất lượng cao sẽ trở thành minh chứng rõ ràng về chất lượng đào tạo, khẳng định năng lực và uy tín của các trường, giúp công tác tuyển sinh thuận lợi hơn, tạo niềm tin cho học sinh và phụ huynh. Đồng thời thu hút nguồn học sinh chất lượng cao và mở rộng hợp tác với doanh nghiệp, đối tác quốc tế.
Trên thực tế, nhiều trường đang nỗ lực phấn đấu để đạt chuẩn chất lượng cao bằng cách nâng cấp cơ sở vật chất, chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, cải tiến chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế và tăng cường hợp tác với doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc xây dựng các trường cao đẳng chất lượng cao vẫn gặp không ít thách thức.
Theo Thông tư 35/2021/TT-BLĐTBXH quy định tiêu chí và quy trình đánh giá, công nhận trường cao đẳng chất lượng cao, các cơ sở muốn được công nhận phải đáp ứng nhiều tiêu chí khắt khe. Trong đó, tiêu chí về quy mô đào tạo được coi là khó khăn lớn nhất, khi mỗi trường phải có tối thiểu 2.000 học sinh, sinh viên, trong đó ít nhất 1.000 sinh viên trình độ cao đẳng.
Theo cô Ngọc, yêu cầu này là trở ngại đáng kể đối với nhiều cơ sở ngoài các thành phố lớn, nơi nguồn tuyển sinh còn hạn chế.
Thách thức thứ hai liên quan đến tỷ lệ bỏ học, quy định không được vượt quá 20% tổng tuyển sinh. Tuy nhiên, đặc thù của đối tượng học sinh hiện nay khiến tiêu chí này khó đạt bởi phần lớn học sinh chọn học cao đẳng do không đỗ cấp 3, dẫn đến thiếu hứng thú với việc học và chưa có định hướng rõ ràng về nghề nghiệp tương lai. Hệ quả là nhiều em nghỉ học giữa chừng sau một thời gian theo học.
Theo ghi nhận, tỷ lệ bỏ học tại nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện dao động từ 30–40%.

Cô Nguyễn Yến Ngọc – Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Hòa Bình. Ảnh: website nhà trường.
Thuỳ Trang
